TIỂU SỬ

THỦ KHOA BÙI HỮU NGHĨA

Ông Bùi Hữu Nghĩa, hiệu Nghi Chi, sinh năm Đinh Mão (1807) tại Bình Thuỷ – Cần Thơ.

            Thân sinh là Bùi Hữu Vi làm nghề chài lưới. Tuy nhà nghèo nhưng thấy con thông minh và ham học, ông đưa con lên Biên Hòa, gửi nhờ nhà ông Nguyễn Văn Lý để theo học với ông đồ Hoành.

            Qua những năm đèn sách miệt mài, Bùi Hữu Nghĩa vượt hẳn các bạn đồng học, được thầy khen bạn mến.

            Năm 1835, nhằm năm Minh Mạng thứ 16, ông đỗ Giải nguyên (tức Thủ khoa) kỳ thi hương ở Gia Định. Ông nổi tiếng từ đấy.

            Ít lâu sau, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Tồn, con gái của ông Nguyễn Văn Lý ở Biên Hòa, người đã đùm bọc ông suốt thời gian học tập.

            Ông được bổ làm tri huyện ở Phước Long (Biên Hòa), rồi tri huyện Trà Vang (tức huyện Trà Vinh – tỉnh Vĩnh Long).

            Với tấm lòng thương dân yêu nước căm ghét bọn quan lại tham nhũng, thối nát và bọn giàu có cậy quyền thế, ức hiếp dân lành Bùi Hữu Nghĩa đã không ngần ngại đứng về phía kẻ yếu, bênh vực người nông dân nghèo Khơme, do vậy gây ra vụ án rạch Láng Thé.

            Nguyên trước đó, trong lúc thất thế, Nguyễn Ánh chạy đến vùng này có hàm ơn dân địa phương trong việc giúp đỡ lương thực. Khi lên ngôi vua, để trả nghĩa, Gia Long xuống chiếu vĩnh viễn miễn thuế thủy lợi đối với người dân Khơme ở Láng Thé. Tham lam trước nguồn lợi cá to lớn, bọn địa chủ Hoa kiều muốn độc quyền được hưởng nên lo lót với các quan đầu tỉnh mua phần thuỷ lợi ấy. Uất ức, người dân nghèo Khơme kéo nhau đến huyện kiện với Bùi Hữu Nghĩa. Bùi Hữu Nghĩa nghe qua biết được giữa đám quan đầu tỉnh và địa chủ có mối thông đồng bất chính đẩy dân nghèo lâm vào cảnh khó khăn, bèn bảo họ rằng:

            “Rạch Láng Thé từ trước đến giờ được đức Thế Tổ tha thuỷ lợi vĩnh viễn cho các người, thì các người cứ chiếm lấy. Nay nếu có ai lớn hơn Thế Tổ tự bán rạch ấy thì các ngươi phải cam chịu, còn nếu ai nhỏ hơn Thế Tổ đứng bán rạch ấy thì có chém nó đứt đầu cũng chẳng sao!”

            Nghe lời như cởi tấm lòng, những thổ dân kéo ra rạch bửa đập, phá rọ. Bọn chủ Hoa kiều cậy thế, hè nhau đàn áp họ. Hai bên đánh nhau, kết cục gần chục mạng thị thổ dân chém chết. Được phi báo, quan đầu tỉnh cho lính đến Láng Thé bắt những thổ dân liên can trong vụ đổ máu đưa về giam ở Vĩnh Long.

            Qua lời khai của thổ dân, để hả lòng thù hận bấy lâu, nhân dịp may hiếm có, bọn quan đầu tỉnh quy tội giết người do Bùi Hữu Nghĩa xúi giục, bắt ông giải về Gia Định, lên án tử hình, dâng sớ về triều đình phê chuẩn.

            Trước nỗi oan ức của chồng, năm 1849, bà Nguyễn Thị Tồn đã lặn lội ra tận Kinh đô Huế kêu oan cho chồng. Trước Tam pháp ty, bà khua ba hồi trống “kích cổ đăng vân”, thúc giục vua lâm triều, để dâng tờ sớ minh oan cho chồng. Hành động can trường, đáng kính phục của bà đã khiến cho vua Tự Đức tha tội tử hình cho Bùi Hữu Nghĩa nhưng phải quân tiền hiệu lực, lập công chuộc tội.

            Lúc bấy giờ, nghe tin có người đàn bà ở đất Đồng Nai lặn lội ra kinh đô Huế minh oan cho chồng, bà Từ Dũ – mẹ vua Tự Đức – cho vời đến gặp. Bà Nguyễn Thị Tồn vào yết kiến và tâu qua mọi việc. Thái hậu Từ Dũ cảm động và tặng một tấm biển đề bốn chữ vàng “Liệt phụ khả gia”.

            Sau đó, Bùi Hữu Nghĩa bị đưa đi trấn đồn Vĩnh Thông (Châu Đốc) – nơi giáp với nước Campuchia. Tình hình nơi này thường xuyên không ổn định, bởi các cuộc nổi dậy chống triều đình của thổ dân và người bên kia nước láng giềng. Thế là, trong một cuộc chạm trán, đồn Vĩnh Thông thất thủ, quan quân trong đồn bị giết và bị bắt đi khá nhiều, trong đó có Bùi Hữu Nghĩa. Nhưng do biết tiếng Bùi Hữu Nghĩa là người có tấm lòng nhân từ, quan tâm đến số phận của người nghèo khổ, trong đó có người Khơme chân lấm tay bùn nên đối phương tha cho ông về. Hơn thế nữa, vua Cao Miên lúc đó là Ong Duôn còn cho thuyền đưa ông đến Tịnh Biên.

            Trong khoảng thời gian về quê nhà dạy học và làm thơ, Bùi Hữu Nghĩa chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược. Ngày 18-2-1859, giặc Pháp chiếm Sài Gòn. Sự kiện này là nỗi đau thống thiết chung của toàn dân, mà trước hết là những sĩ phu yêu nước như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, …

            Triều đình nhà Nguyễn nhu nhược bán nước, cắt Nam Kỳ lục tỉnh cho Pháp. Trong những ngày đau thương của dân tộc, Bùi Hữu Nghĩa đã gần 60 tuổi, không thể trực tiếp tham gia nghĩa quân đánh giặc, nhưng bằng lời thơ thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, ông đã cổ vũ cho phong trào yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ.

            Năm 1868, thực dân Pháp nghe ông tham gia phong trào Văn Thân nên đã bắt ông giam ở Vĩnh Long, sau đó đưa về Gia Định.

            Thế nhưng, Bùi Hữu Nghĩa đã tỏ rõ khí tiết bất khuất, không chịu để giặc và bọn tay sai mua chuộc. Biết không thể lung lay tinh thần của Bùi Hữu Nghĩa được, chúng phải thả ông về quê nhà.

            Cuối cùng, sau một cơn bệnh nặng, Bùi Hữu Nghĩa đã từ giã cõi đời vào ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Thân (1872), thọ 66 tuổi.

            Tóm lại, cuộc đời của cụ Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa là cuộc đời của một nhà yêu nước nhiệt thành, một nhà tư tưởng có nhiều quan điểm tiến bộ, một vị quan cương trực, thanh liêm, bất khuất trước cường quyền, một nhà văn hóa lớn, một soạn giả tuồng bậc thầy, một nhà thơ nổi tiếng, rất xứng đáng với danh hiệu là một “Rồng vàng” trên văn đàn Đồng Nai mà nhân dân truyền tụng, một người chồng, người cha trọn nghĩa vẹn tình, một người thầy mẫu mực xứng đáng cho học sinh các thế hệ noi theo.